Sơn đã tự đi được
Quốc gia xây dựng sân bay dã chiến Dừa (xã Tường Sơn) nhằm ngăn chặn phi cơ địch. Ai cũng muốn sinh con ra khỏe mạnh. Coi sóc những người bị thương do bom đạn. Khó nhọc cả ngày với công việc nặng nhọc. Nhẹ nhàng hơn và chừng như được tiếp thêm nghị lực để vững vàng hơn trong cuộc sống.
Bà Liên (bên phải) và chồng cùng cô con gái bị nhiễm chất độc da cam 10 năm chờ Hỏi về thôn 12. Dù vậy. Thấp thỏm. Viết và gửi đi nhiều nhưng người nhận được chẳng bao lăm vì thất lạc. Người dân rất nhiệt thành chỉ giúp.
Lươn và cua đồng cho con ăn với hy vọng con mình cứng cáp. Chúng nó là con. Rời khỏi thực tế. Quá đau đớn vì mất con. Có bà Liên (sinh năm 1948) nuôi con bị nhiễm chất độc da cam thì từ đầu xã.
Ương ương". Sơn đi lại được nhưng mất trí. Chứ đời anh chị nó cũng còn lo không nổi bản thân. Rồi ba năm sau. Nhiều lúc lên cơn thường đập phá đồ đạc. Sức khỏe yếu dần. Vợ chồng tui có một tâm nguyện là khi cả hai mất đi. Giữa cảnh đạn bom khốc liệt. Bà Liên bắt đầu câu chuyện. Vợ chồng bà Liên tuần tự sinh thêm được một cô con gái tên Lợi và một con trai út tên Lực.
Nhưng tui như cây sim rừng sinh quả lép. Khi giặc Mỹ leo thang đánh phá miền bắc. Ngày ấy. Cả hai vợ chồng bà Liên đều bất tỉnh ngay bên giường bệnh của con. Bà Liên trút vào thơ: "Gần ba năm sao con chả nói/ Mẹ gọi con. Đám cưới của họ được tổ chức trong niềm hân hoan. Thơ là lòng tui. Lo âu.
Bà Liên run run: "Đây chú ạ. Xa hơn. Chăn nuôi mần ăn cho mấy đứa. Cầm mớ bản thảo viết tay. Bà phải gọi con về dỗ ngon dỗ ngọt. Chúc tụng của gia đình. Liên thường dành một ít thời gian để viết thư cho người yêu và ghi nhật ký. Chấp nhận đắng cay để mà vươn lên.
Chẳng biết kiếp trước tui làm gì nên tội mà kiếp này sinh con khổ thế. Năm năm sau. Họ vẫn giữ giao thông với nhau qua những lá thư.
Một năm sau. Đợi. Đôi lúc tui thấy tủi. Những vần thơ lên án thứ chất độc hại. Cả hai lành lẽ. Dù nắng cháy hay mưa gió. Đã 34 tuổi nhưng Sơn sáng không biết rửa mặt. Bà con lối xóm. Liên còn tích cực tham gia vận chuyển lương thực. Sơn và Thủy được vào trại trẻ mồ côi hoặc trọng điểm từ thiện nào đó cho đỡ khổ.
Dù gì cũng phải rất đỗi thương xót. Suốt chục năm trời xa vắng. Bà Liên vẫn thuộc những câu thơ viết từ ngày đó: "Em sẽ đợi anh về/ Ngày hợp nhất núi sông/ Em sẽ đợi anh về/ Ngày chung sống bên em/ Em sẽ đợi anh về/ Vui chung cùng ba má".
Dòng hồi tưởng của bà dẫn chúng tôi về những ngày tháng sôi động. Đến giờ. Con chẳng thèm nhìn/ Mẹ đau lòng và khóc thâu đêm/ Sao con mình như vậy?". Gánh nặng của tui gấp mấy người khác". Đầu năm 1973. Thủy tuy khá hơn anh trai mình nhưng tâm tính "dở dở. Tôi hỏi sắp tới bà tính sao? Bà Liên nói: "Thì vẫn làm ruộng. So với bạn bè cùng trà. Thấy khách đến. Bà Liên thanh minh.
Chờ trong nỗi nhớ càng thêm chất chồng. Sơn chuyên đau bụng. Háo hức niềm vui sống. Được viết ra. Niềm hy vọng. "Hai đứa Sơn và Thủy sinh ra bình thường nhưng chừng ba tuổi. Liên và người con trai tên là Bùi Công Mỹ cùng làng đã có tình cảm với nhau. Hiện giờ. Trải nghiệm đau đớn về tinh thần. Năm 1974. DUY VIỆT. Tui vịn vào đó và được tiếp thêm sức mạnh. Cô thôn nữ Phan Thị Liên phải nghỉ học giúp gia đình.
Tới năm 1979. Thuốc men cho lính phòng không. Con trai Bùi Công Sơn chào đời.
Ông ấy cũng yếu. Hy vọng có được thêm những đứa con lành lẽ để có thể làm chỗ dựa về sau. Qua đó. Và công sức của người mẹ tảo tần phần nào đã được đền đáp khi mấy năm sau. Đi viện nhiều nơi không khỏi. Hường và Lợi đã có gia đình.
Bao đêm tui chỉ biết khóc thầm". Bà Liên sinh được con gái thứ hai đặt tên là Bùi Thị Hường. Niềm hy vọng lớn nhất của ông bà là người con trai út Bùi Công Lực để dựa dẫm sau này thì chẳng may. "Vịn vào lòng mình" Lấy nhau.
Phân vua nỗi niềm trước trang giấy. Vì sức khỏe yếu. Trong khi đó. Thường phải đi viện nên họ chỉ làm được những việc vặt trong nhà. Cô con gái tên Thủy được sinh ra.
Miệng méo xệch. Anh Mỹ được đơn vị cho giải ngũ. Con cái không giúp được gì.
Đều có một đứa con nhưng sức khỏe yếu. Hằng đêm. Hạnh phúc của đôi vợ chồng được nhân lên khi tình ái của họ đã đơm hoa. Sơn vẫn cứ lang thang ngoài đường hễ thấy nhà nào có rác đầu ngõ là đến mang đi đổ. Cho kẹo như đứa trẻ lên ba. Không có mấy thứ ni để dựa dẫm thì làm sao sống nổi mà chăm con.
Đêm đến bà Liên lại bớt chút thời gian chong đèn. Tui cũng thấy nhiều người rứa.
"Nuôi con lớn mà không được nhờ chi. Nuôi nấng hết sức vất vả. Từ ngày còn đi học. Liên cùng bà con trong làng tích cực tham gia đào hào.
Nhưng biết làm thế nào. ". Vợ chồng ông bà thường khích lệ nhau phải sống và hy vọng. Dù vậy. Nhìn những hành động của con mà bà Liên nhói lòng. Học xong cấp 2. Nhưng niềm vui chẳng tày gang khi con gái mới sinh ra đã bị dị hình rồi bỏ cha mẹ mà đi khi chưa đầy ba tuổi.
Khuôn mặt bà hằn lên những nét khắc khổ. Bà thấy khuây khỏa.
Nhưng đủ để thắp lên trong lòng người con gái thôn dã chờ đợi ý trung nhân rất nhiều hy vọng và niềm tin. Tối chẳng biết rửa chân. Liên chỉ nhận được hai bức thư phúc đáp của nhân tình. Làm thuê sự. Liên ghi lại những dòng nhớ thương gửi bồ tới 105 bức thư và hai cuốn nhật ký vừa bằng thơ và văn xuôi. Sau đó không lâu. Cùng với việc luyện tập.
Chăm con. Qua trò chuyện tôi nhận ra giờ bà chấp nhận để có thể bình tâm trông nom các con. Mãi sau này đi xét nghiệm. Năm 1964. Bố trí trận địa bảo vệ trường bay. ". Bà Liên sinh con gái đầu lòng. Thấy con trai không đi được nên bà bắt cóc. Tất tật ba người con lành lẽ của bà Liên vẫn yếu và thấp bé hơn.
Lúc chúng tôi đến. Kết trái. Bà đang phải dỗ ngon dỗ ngọt các con dù tuổi chúng đã lớn. Gia đình hai bên đã tổ chức lễ đính hôn mà vắng mặt chú rể. Mỹ lên đường nhập ngũ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét