Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Bài học từ sự vỡ (2): Khi các nhà phong cách lập pháp "ngủ gật".

Kể từ năm 1988, một ủy ban của ngân hàng trung ương và các cơ quan giám sát họp tại Basel đã thương thảo về các luật lệ quốc tế cho số vốn tối thiểu mà các nhà băng vốn phải có can dự đến tài sản của họ

Bài học từ sự đổ vỡ (2): Khi các nhà lập pháp

Fed đã không núm để ngăn chặn bong bóng nhà đất.

Sai lầm của các cơ quan quản lý là việc không giữ được sự thăng bằng của nền kinh tế và không thực hành giám sát các tổ chức tài chính một cách hợp lý. Tuổi ổn định lâu dài của giá cả và nền kinh tế đã khuyến khích những hành vi bằng lòng nhiều rủi ro.

Nhưng lỗi lầm lớn nhất của các nhà quản lý là để cho Lehman Brothers vỡ nợ, bởi sự việc này đã làm cho những hoảng loạn trong thị trường được nhân lên gấp bội.

Ủy ban Basel cũng không thực hành bất kì quy tắc nào liên can đến việc một phần tài sản của ngân hàng phải bằng tiền mặt. Ngân hàng trung ương đáng lẽ có thể làm nhiều hơn để giải quyết sờ soạng điều này. Ông đưa ra kết luận, không phải do tùng tiệm dư mà lỗi lầm chính do các ngân hàng toàn cầu. Dưới áp lực tăng lợi nhuận từ các cổ đông, nhà băng đã hoạt động với vốn chủ sở hữu tối thiểu, điều này khiến cho nhà băng dễ bị thương tổn hơn.

Cuộc khủng hoảng đồng euro trong hoàn cảnh này là một sự tiếp nối của cuộc khủng hoảng tài chính trước đó, khi thị trường đã xoáy vào những điểm yếu của các ngân hàng châu Âu khi phải gánh thêm các khoản nợ xấu sau khi bất động sản vỡ nợ.

Nguồn The Economist/Dân Việt. Có lẽ vậy, nhưng họ còn có phương tiện quản lý khác, chả hạn như giảm tỷ lệ cho vay đến giá trị tối đa cho vay thế chấp, hoặc đòi hỏi các ngân hàng phải trích lập thêm vốn. Để ngăn chặn khủng hoảng lan rộng, cơ quan quản lý đã phải giải cứu nhiều công ty khác. Nói cách khác, mặc dù châu Âu tuyên bố là nạn nhân vô tội của môn phái Anglo-Saxon, nhưng các nhà băng của họ đã chìm sâu vào vấn đề này.

Và bỗng dưng, không ai còn tin bất cứ ai, thành thử không ai muốn cho vay. Sự mất cân đối bởi dòng vốn tín dụng từ chính khu vực eurozone đã chảy vào thị trường nhà đất đang rất nóng của các nước như Tây Ban Nha và Ireland. Kết cục vỡ là điều luôn xảy ra trong lịch sử của các cuộc khủng hoảng và những người tiêu dùng thông thường cũng dự vào tập thể những con người ảo mộng về sự thịnh vượng lâu dài, có thể được xây dựng trên những khoản nợ lớn chưa từng có.

Các nền kinh tế Nam Âu phải chịu nghĩa vụ lớn trong việc khiến cho thâm hụt trương mục vãng lai của khu vực eurozone tăng cao trong thập kỷ trước tiên của trong khi thặng dư, bất chấp sự bù đắp từ các nước Bắc Âu.

Nhưng từ lâu, các nhà quản lý đã phạm phải sai lầm chứ không phải đợi đến khi Lehman phá sản, đáng chú ý nhất là sự mất cân bằng trương mục vãng lai toàn cầu và bong bóng nhà đất mà họ đã góp phần phóng đại lên

Bài học từ sự đổ vỡ (2): Khi các nhà lập pháp

Họ đã lấy một cái nhìn eo hẹp và sai trái về trách nhiệm của mình để duy trì sự ổn định tài chính. Ủy ban cũng thất bại trong việc thiết lập một cơ chế cho phép một nhà băng quốc tế lớn sụp đổ mà không gây ảnh hưởng đến phần còn lại của hệ thống.

Ben Bernanke đã nhấn mạnh rằng, thị trường lâm vào tình trạng tằn tiện dôi trong đầu năm 2005, một năm trước khi ông chính thức nhậm chức chủ toạ Fed từ người tiên nhiệm Alan Greenspan. Nghiên cứu gần đây của Hyun Song Shin, một nhà kinh tế tại Đại học Princeton, đã tụ họp vào vai trò của châu Âu trong kích động cuộc khủng hoảng. Hơn nữa, châu Âu cũng gặp phải sự mất thăng bằng trong nội bộ, được đánh giá là nghiêm trọng không kém gì tình trạng của Mỹ và Trung Quốc.

Tuy nhiên không chỉ tìm thấy những đánh giá thiếu chuẩn xác tại các cơ quan quản lý và các nhà băng, cơ quan xếp hạng tín dụng cũng “đồng lõa” trong việc đánh giá quá cao các sản phẩm phái sinh vốn tiềm ẩn quá nhiều rủi ro. Ngân hàng trung ương từ lâu đã giãi bày lo ngại về tình trạng thâm hụt ngân sách lớn của Mỹ và các dòng vốn bù đắp từ việc kiệm ước thừa của châu Á.

Từ giữa những năm 1990, nhà băng đã được cho phép dùng mô hình nội bộ để đánh giá rủi ro, dẫn đến việc tự thiết lập yêu cầu về vốn và cho phép bảng cân đối kế toán phồng lên mà không có một sự gia tăng tương thích về vốn.

Sự ra đời của đồng euro đã xúc tiến sự mở rộng đặc biệt của ngành tài chính cả trong khu vực đồng tiền chung châu Âu lẫn các trọng tâm ngành nhà băng lân cận như London và Thụy Sĩ.

Nhưng những quy định này đã không đủ chặt chẽ. Họ mua rất nhiều chứng khoán của Mỹ và cũng chi trả phần lớn bằng cách vay mượn từ chính các quỹ trên thị trường tiền tệ của Mỹ.

Nhưng sự tụ họp vào các dòng vốn ròng từ châu Á đã để lại một “điểm mù” cho các dòng vốn tổng lớn hơn nhiều từ các ngân hàng châu Âu. Oái oăm thay, quyết định cho phép Lehman vỡ nợ đã dẫn đến việc phải gia tăng sự can thiệp của chính phủ.

Ngân hàng trung ương Anh (BoE) đã đánh mất vai trò kiểm soát và giám sát ngân hàng khi trở thành độc lập vào năm 1997. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã không làm gì để hạn chế tăng tín dụng và nhầm tưởng rằng, sự mất cân bằng trương mục vãng lai không quan yếu trong một liên minh tiền tệ. Các công ty phi tài chính, chẳng thể dựa vào khả năng vay để trả tiền cho nhà cung cấp hoặc người lao động, họ đành phải đóng băng tiêu để tích trữ tiền mặt, gây ra một cơn chấn động trong nền kinh tế thực.

Ngân hàng trung ương nhấn mạnh rằng rất khó khăn để làm dịu bớt sự bùng nổ nhà ở và tín dụng thông qua điều hành gia tăng lãi suất. Tỷ lệ vốn lỏng lẻo chính là sự khuyết điểm lớn nhất.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét